Cách làm bài văn thuyết minh về danh lam thắng cảnh

      36

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở địa phương em là đề văn thú vị và cũng rất thường gặp khi học văn thuyết minh lớp 8. Do đó, các em cần nắm chắc cách làm của dạng bài này.

Bạn đang xem: Cách làm bài văn thuyết minh về danh lam thắng cảnh

*


Hãy tham khảo bài hướng dẫn chi tiết dưới đây để dễ dàng nắm bắt được cách làm và áp dụng vào bài của mình em nhé.

Bạn đang xem: Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở địa phương em


2 Mẫu dàn ýthuyết mình về một danh lam thắng cảnh4 Các bài thuyết minh về danh lam thắng cảnh theo địa phương4.1 Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Hà Nội4.2 Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở TP Hồ Chí Minh4.4 Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Thanh Hóa

Hướng dẫn làm bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh

1. Danh lam thằng cảnh là gì ?

Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học.

Các danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở Việt Nam

Vịnh Hạ Long.Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Gươm)Sapa.Công viên quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.Đảo Phú Quốc.Nha Trang.Chùa Một Cột.

2. Phân tích đề

– Yêu cầu đề bài: thuyết minh, giới thiệu về một danh lam thắng cảnh mà em biết

– Đối tượng làm bài:

Để làm bài văn thuyết minh danh lam thắng cảnh thì việc đầu tiên các em cần xác định chính là đối tượng thuyết minh bởi đây là đề tài vô cùng rộng. Em lựa chọn:

+ Danh lam thắng cảnh ở địa phương em

+ Danh lam thắng cảnh của đất nước ta mà em đã thăm quan.

– Phương pháp làm bài: thuyết minh, miêu tả

3. Các bước làm bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh lớp 8

– Để thuyết minh hay giới thiệu một danh lam thắng cảnh thì việc đầu tiên các em cần phải xác định xem mình muốn thuyết minh về đối tượng nào? Em hiểu về nó như thế nào? Trả lời được các câu hỏi:

Nguồn gốc, xuất xứ, lịch sử hình thành nên đối tượng đó?Kết cấu, kiến trúc của danh lam thắng cảnh đó bao gồm những điều gỉ? (cấu tạo bên ngoài, cấu tạo bên trong)Có thể kể một vài câu chuyện lịch sử ngắn, một vị anh hùng dân tộc gắn liền với danh lam thắng cảnh đó?Ý nghĩa, giá trị lịch sử của đối tượng đó?Nhà nước, địa phương đã có những biện pháp nào để bảo vệ, trùng tu, tôn tạo và phát triển nó?Cảm nghĩ của em về danh lam thắng cảnh đó?

Để làm được thì các em phải có thực tế thăm thú hoặc gạch ra các ý toàn diện về cảnh sắc thiên nhiên nơi em đã từng thăm quan, những sự tích hay lịch sử về danh lam thắng cảnh ấy.

– Lên dàn ý bao quát: bài văn thuyết minh cần đầy đủ ba phần, trong đó cần kết hợp các yếu tố tự sự, miêu tả và biểu cảm cho mạch văn sinh động.

4. Các luận điểm chính cần triển khai

Luận điểm 1: Giới thiệu vị trí địa lí và lịch sử của địa danh

Luận điểm 2: Cảnh bao quát đến chi tiết của địa danh

Luận điểm 3: Giá trị văn hóa, lịch sử của danh lam thắng cảnh đó

Mẫu dàn ýthuyết mình về một danh lam thắng cảnh

1. Mở bài

– Giới thiệu đối tượng thuyết minh: Tên danh lam thắng cảnh mà em muốn giới thiệu.

– Cảm nghĩ chung của em về danh lam thắng cảnh đó.

2. Thân bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh

Giới thiệu khái quát:

– Vị trí địa lí, địa chỉ

– Khung cảnh bao quát

(Nếu có thể em hãy giới thiệu chi tiết cách thức đi tới danh lam thắng cảnh này.)

Lịch sử hình thành:

– Thời gian xây dựng, nguồn gốc hình thành

– Ý nghĩa tên gọi hoặc tên gọi khác (nếu có)

Giới thiệu về kiến trúc, cảnh vật

– Cấu trúc khi nhìn từ xa

– Chi tiết từng đặc điểm đặc sắc và nổi bật nhất của danh lam thắng cảnh

(Tại đây cần sử dụng các yếu tố tự sự, miêu tả để người đọc có thể hình dung hình ảnh của đối tượng thuyết minh một cách chi tiết và đặc sắc nhất.)

Ý nghĩa về lịch sử, văn hóa của đối tượng thuyết minh đối với:

– Địa phương

– Đất nước

3. Kết bài

– Khẳng định lại một lần nữa giá trị, ý nghĩa của danh lam thắng cảnh mà em thuyết minh ở trên đối với địa phương hoặc đất nước.

– Nêu cảm nghĩ của bản thân về đối tượng thuyết minh.

Sơ đồ tư duy thuyết minh về một danh lam thắng cảnh

Sơ đồ tư duy bài thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở địa phương em nhằm khái quát cấu trúc và các nội dung chính giúp các em hoàn thành bài làm văn đầy đủ và hay hơn

*

Với sơ đồ tư duy này tương đương với một dàn ý cơ bản để các em có thể xác định được bố cục cần thiết cho một bài văn thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở địa phương em.

Các bài thuyết minh về danh lam thắng cảnh theo địa phương

Nhắm giúp các em cùng tham khảo, Doctailieu giới thiệu tuyển chọn những bài văn mẫu thuyết minh về một danh lam thắng cảnh được trình bày theo từng địa phương.

Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Hà Nội

Các danh lam thắng cảnh tại Hà Nội:

Hồ GươmĐền Ngọc SơnHoàng thành Thăng LongLăng BácHồ TâyChùa Một CộtVăn Miếu Quốc Tử GiámThuyết minh về Hồ Gươm (hồ Hoàn Kiếm)

Hà Nội! Không chỉ là thủ đô của nước Việt Nam. Không chỉ là trung tâm chính trị của nước nhà. Nó là một địa danh lịch sử gắn với nhiều đau thương mất mát của chiến tranh, gắn với những mốc son không thể xóa nhòa. Nói đến Hà Nội, người dân Hà Nội, luôn có những hình ảnh đẹp đẽ trong mắt mỗi người dân Việt Nam. Những địa danh, những hình ảnh, những địa điểm tại đất Thăng Long ai ai cũng muốn tham quan, được đi đến. Trong đó có Hồ Gươm.

Hồ Gươm không chỉ là danh lam thắng cảnh đẹp của Hà Nội, nó còn là di tích lịch sử của nước ta. Trước hết, Hồ Gươm được gắn với truyền thuyết Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn cùng thần kim quy đã giúp nước ta thoát khỏi ách đô hộ của giặc Minh xâm lược. Sự tích trả gươm rùa thần của Lê Lợi đã làm nên cái tên “Hồ Gươm” hay “Hồ Hoàn Kiếm” ngày nay thay cho tên “Hồ Lục Thủy” ngày xưa. Trên hồ có hai hòn đảo: đảo Ngọc và đảo Rùa. Đầu thế kỷ 19, người ta dựng một ngôi chùa trên đảo Ngọc gọi là chùa Ngọc Sơn. Ít lâu sau chùa không thờ Phật mà thờ thánh Văn Xương và Trần Hưng Đạo nên đổi tên thành Đền Ngọc Sơn. Năm 1864, trên gò Ngọc Bội đối diện với đảo Ngọc, Tháp Bút được xây dựng.

Hồ Gươm là hồ nước ngọt tự nhiên của Hà Nội. Với diện tích 12 ha, nước hồ quanh năm xanh ngắt. Hồ có vị trí kết nối giữa khu phố cổ gồm các phố: Hàng Ngang, Hàng Đào, Cầu Gỗ… với các khu phố Tây do người Pháp quy hoạch như: Tràng Thi, Bảo Khánh, Nhà Thờ, Đinh Tiên Hoàng, Tràng Tiền, Hàng Khay, Bà Triệu… Đến thăm Hồ Gươm, không thể không thấy hình ảnh tượng trưng của nó. Đó là tháp Rùa. Tháp Rùa được xây dựng nằm ở trung tâm hồ chịu ảnh hưởng của đặc trưng kiến trúc Pháp. Tháp hình chữ nhật, có bốn tầng. Kiến trúc từng tầng khá giống nhau. Các mặt được xây dựng đều có cửa uốn thon gọn. Tháp Rùa được coi là kiến trúc có tính chất lịch sử và thiêng liêng đối với không chỉ người dân Hà Nội mà còn là cả con người Việt Nam. Đặc biệt, đến với Hồ Gươm thì hầu như ai cũng dành chút thời gian để bước chân lên chiếc cầu Thê Húc màu son dẫn vào đền Ngọc Sơn. Sự kết hợp giữa đền Ngọc Sơn và hồ Hoàn Kiếm đã tạo thành một tổng thể kiến trúc Thiên – Nhân hợp nhất tạo vẻ đẹp cổ kính hài hòa cho đền và hồ, gợi nên những cảm giác chan hòa giữa con người và thiên nhiên. Ngoài ra, Hồ Gươm còn gắn liền với các địa danh khác như Tháp Bút, Đài Nghiên, Đền thờ vua Lê….

Hồ Gươm đã cùng với thời gian trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử. Biết bao đời vua trị vì đã đến đây để thực hiện những nghi thức long trọng. Cũng bởi giá trị lịch sử của nó đối với Hà Nội và cả đất nước Việt Nam, mà Hồ Gươm đã trở thành điểm đến của biết bao du khách trong và ngoài nước mỗi khi đặt chân đến Thủ đô. Không ai có thể phủ nhận giá trị kiến trúc cũng như giá trị lịch sử của Hồ Gươm.

Đối với người dân Hà Nội, Hồ Gươm không chỉ là điểm đến dừng chân, ngắm cảnh hữu tình hay hóng gió. Hồ Gươm đã cùng với người dân Hà Nội trải qua biết bao thời kỳ đổi thay, chuyển mình của đất nước. Nó mang một giá trị tinh thần hết sức to lớn đối với người dân Hà Nội. Nó như một người bạn, một người tri kỉ, một chứng nhân lịch sử quan trọng của người dân Hà Nội. Cũng giống như cầu Long Biên hay bất kỳ một địa danh nào khác của Hà Nội, Hồ Gươm là dấu ấn riêng của Hà Nội mỗi khi nhớ về. Không chỉ bởi lẽ đó, Hồ Gươm còn có một vị trí địa lý hết sức quan trọng đối với Hà Nội. Nằm ở trung tâm Hà Nội lại nối các khu phố quan trọng với nhau đã khiến cho Hồ Gươm càng trở nên quan trọng đối với đất Thủ đô phồn hoa rực rỡ này.

Bởi vậy mà các sự kiện quan trọng của đất nước thường được tổ chức và diễn ra tại đây. Chưa hết, do nước hồ trong xanh tạo một cảm giác nhẹ nhàng, thoải mái mỗi khi hè đến. Ai cũng biết cái nóng của Hà Nội. Nhưng khi dừng chân ở bờ hồ Hoàn Kiếm, mọi cái nắng không thể làm vơi đi sự mát mẻ cũng như thoải mái nơi đây. Đây cũng là lí do vì sao, mỗi khi mùa hè đến, xung quanh Hồ Gươm thường rất đông người. Ngày nay, Hồ Gươm còn là điểm đến lí tưởng của các bạn trẻ đặc biệt là sinh viên. Bởi lẽ, ở đây tập trung rất nhiều du khách nước ngoài. Chính vì thế, các bạn sinh viên năng động ngày nay thường đến đây để nâng cao khả năng giao tiếp với người nước ngoài của bản thân mình.

Tóm lại, Hồ Gươm vừa là danh lam thắng cảnh, vừa là di tích lịch sử, vừa là dấu ấn là tri kỉ của Hà Nội, người Hà Nội. Hơn hết, Hồ Gươm còn là địa điểm du lịch, nơi nghỉ ngơi vui chơi học tập của mọi người. Hãy đến với Hồ Gươm, bạn sẽ cảm nhận được tất cả những gì mà tôi nói. Hồ Gươm – một địa điểm tuyệt vời giữa lòng Hà Nội.

Nếu em muốn làm bài văn về địa danh này, có thể tham khảo thêm tuyển chọn những bài văn thuyết minh về Hồ Gươm đặc sắc khác được THPT Sóc Trăng biên soạn.

*

Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh: Hồ Gươm

Thuyết minh về đền Ngọc Sơn

“Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồXem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc SơnĐài Nghiên, tháp Bút chưa mònHỏi ai gây dựng nên non nước này.”

Những câu ca dao trên cũng lời bộc bạch, nhắn nhủ của người dân Hà Nội với khách từ thập phương về tụ hội tại trên mảnh đất thiêng liêng này.

Đã trải qua bao năm tháng, Hà Nội giờ đây đã được thay đổi từng ngày, nhưng những quần thể di tích lịch sử vẫn mãi trường tồn nguyên vẹn với thời gian. Một trong số đó phải kể đến Đền Ngọc Sơn một nền tinh hoa của văn hóa dân tộc.

Đền Ngọc Sơn tọa lạc trên đảo Ngọc thuộc địa phận của Hồ Hoàn Kiếm Hà Nội, đây là một quần thể di tích quốc gia đặc biệt.

Đền Ngọc Sơn hiện tại đã được xây dựng từ rất lâu khoảng thế kỷ 19, ban đầu có tên là chùa Ngọc Sơn, nhưng vì bên trong đền chỉ thờ Trần Hưng Đạo, các vị anh hùng có công trong thời kì quân Nguyên xâm lược vào khoảng thế kỷ 13 mà không có thờ cúng tượng Phật nên về sau người ta đặt nó là đền Ngọc Sơn.

Theo sử sách ghi lại, thì trước đây đền còn có tên goi là Ngọc Tượng do vua Lý Thái Tổ trong lúc dời đô ra Thăng Long đã đặt cho nó, về sau nhà Trần lên ngôi lại đổi thành tên như bây giờ Ngọc Sơn.

Được biết, ở thời Trần đây được xem là nơi dành để thờ cúng, tháp hương cho các vị tướng sĩ, binh lính có công chống phá Mông Nguyên mà không may trên chiến trường, nhưng sau đó thì nơi đây cũng bị sụp đổ do chiến tích của chiến tranh.

Vào khoảng năm 1735-1739, nơi đây xuất hiện thêm hai quả núi có tên là Đào Tai và Ngọc Bội, nằm ở hai bên bờ phía Đông phía trước đền Ngọc Sơn trong thời chúa Trịnh Giang cai trị.

Cùng với việc đắp hai quả núi, vua còn xây dựng thêm một cung điện Thụy Khánh uy nghi lộng lẫy, nhưng sau đó bị Lê Chiếu Thống phá hủy trở thành một đống tro tàn.

Về sau, một người từ thiện có công đức tên là Tín Trai đã đem lòng cung kính, khởi công xây dựng lại từ ngôi đấy cũ này và lập ra chùa Ngọc Sơn trang nghiêm, thanh tịnh. Một thời gian sau, chùa Ngọc Sơn được nhường cho một hội từ thiện để xây dựng sửa sang lại làm nơi thờ cho Tam Thánh.

Hội đã bỏ đi gác chuông phía trong chùa, thay vào đó là các gian điện chính, các dãy phòng phía hai bên để đặt thờ tượng của Văn Xương đế quân dần dần thay đổi kiến trúc của nó và sau đó là Bước qua cổng thứ hai sẽ có một lối đi nhỏ nối dài dẫn du khách đến Cổng Đài Nghiên vào ngay đến cầu Thê Húc.

Sau đó sẽ ghé ngang vào lầu Đắc Nguyệt, là một phần trong tổng thể kiến trúc của đền Ngọc Sơn. Lầu được xây dựng quy mô hai tầng, trên tầng hai có hai mái và có hai cửa sổ tròn. Qua lầu Đắc Nguyệt là sẽ đến ngôi đền chính, đây là nơi có sự kết hợp tinh tế giữa 3 lối kiến trúc: Bái Đường, Hậu Cung, Trung Đường, là nơi dành để lập bài vị thờ Tam Thánh và Trần Hưng Đạo. Trước khi bước vào đền Ngọc Sơn sẽ bước qua cổng Nghi Môn.

Được thiết kế một cách kiên cố, vững chắc bởi bốn cây cột bằng gạch và hai mảng tường lửng phía hai bên tạo nên vẻ tráng lệ, hùng vĩ.

Ngoài ra, phía trên đỉnh lại được điêu khắc thêm hình của bốn con phượng hoàng chụm đuôi và xòe cánh rộng, còn trên đỉnh hai cột ngoài cùng là hình con nghê trầu, vừa mang tính hiện đại vừa mang sự cổ kính độc đáo ấn tượng đối với du khách.

Ngoài ra, trên mỗi cột của cổng Nghi Môn đều có khắc những cặp câu đối chữ bằng Tiếng Hán, mang đậm bản sắc dân tộc, vừa giúp khắc họa di tích lịch sử vừa làm nâng cao vẻ đẹp gìn giữ truyền thống của dân tộc.

Phía cuối ngôi đền sẽ là hậu cung, là khu vực có diện tích khá hẹp so với nơi thờ vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo. Nằm ở phía xa xa đền Ngọc Sơn sẽ ngắm nhìn được tháp Rùa với nét đẹp cổ kính, thi vị, là biểu tượng nổi tiếng mang dấu ấn lịch sử của thủ đô Hà Nội.

Về phía nam sẽ có trấn Ba Đình, có mái hình vuông, mái hai tầng và được 8 cột chống đỡ, bốn cột bên ngoài vững chắc bằng đá, còn bốn cột bên trong thiết kế bằng gỗ khang trang, tinh tế.

Đền Ngọc Sơn, nơi chứa đựng vẻ đẹp mộc mạc bình dị, không chỉ là nơi tâm linh, thiêng liêng mà đến đây du khách còn có thể cảm nhận được bầu không khí yên tĩnh, trang nghiêm, tĩnh lặng giữa sự bộn bề tấp nập của thành phố.

Đền nằm trong cụm di tích lịch sử lâu đời, văn hóa cấp Quốc Gia gồm tháp Rùa và đền Ngọc Sơn vừa nên thơ, vừa hữu tình.

Qua một số bài thuyết minh về đền Ngọc Sơn trên, chúng ta cảm thấy sự linh thiêng, bình dị mà nơi đây mang lại. Kiến trúc cổ xưa, tinh tế góp phần tạo nên vẻ đẹp cho ngôi đền này cùng với biểu tượng tháp Rùa mang dấu ấn lịch sử của thủ đô Hà Nội.

Thuyết minh về Hoàng thành Thăng Long

Có nhiều thư tịch cổ chép về trung tâm hoàng thành Thăng Long xưa với những cung điện nguy nga, tráng lệ trên quy mô to lớn và phát triển liên tục qua các triều đại, nhưng chưa ai có thể định hình ra được nó nằm ở đâu, xây dựng như thế nào, kiến trúc ra sao; bởi tất cả những công trình này đã bị vùi sâu trong lòng đất hàng ngàn năm do nhiều nguyên nhân khác nhau. Thế rồi cuộc khai quật cổ học tại 18 Hoàng Diệu lần đầu tiên giúp cho giới sử học tận mắt thấy một phần lớn diện mạo kiến trúc hoàng thành Thăng Long thời Lý, thời Trần, thời Lê và nhiều di vật quan trọng khác.

Từ trước cho đến khi cuộc khai quật khảo cổ này được bắt đầu, trong giới khảo cổ, sử học đã có hai luồng ý kiến về vị trí thành Thăng Long thời Lý, Trần, Lê. Một là trung tâm Thăng Long thời Lý, Trần, Lê là điện Kính Thiên vẫn còn nền móng và các thành bậc chạm rồng và sứ hoa văn thời Lê sơ. Ý kiến cho rằng thành Thăng Long thời Lý, Trần ở phía tây vườn Bách thảo. Vào những năm cuối thế kỉ thứ XX và đầu thế kỉ thứ XXI, giới khảo cổ tổ chức khai quật một số địa điểm như Hậu Lâu, Tràng Tiền, Hàng Dầu, Đoan Môn, Bắc Môn, Văn Miếu, Trần Phú… với mong muốn tìm kiếm các di tích kiến trúc của những cung điện Thăng Long – Hà Nội cổ, nhưng chỉ mới phát hiện được vài dấu tích kiến trúc và một số di vật khác. Chính cuộc khai quật khảo cổ tại số 18 Hoàng Diệu lần này đã mở ra cho giới khảo cổ nhiều triển vọng tìm về trung tâm hoàng thành Thăng Long thời Lý, Trần, Lê.

Qua bóc tách các lớp đất ở độ sâu từ lm trở xuống và dày 2, 3 – 5m đã xuất hiện nhiều dấu vết từ các thời đại sắp chồng lên nhau. Qua các hố khai quật trên một diện tích hơn 14.000m2, các nhà khảo cổ đã làm xuất lộ được gần hết diện tích nền móng của cung điện có chiều dài 62m, rộng 27m (diện tích 1.674m2 với chín gian nhà) thuộc thời Lý, Trần. Cung điện có một hệ thống 40 trụ móng cột được xử lý rất kiên cố bằng sỏi và gạch ngói. Đã có thể hình dung rõ hơn về diện mạo kiến trúc cung điện này, nhóm khảo cổ đã mời 40 công nhân đứng trên 40 trục móng, lúc này họ mới hình dung được quy mô của cung điện. Tại hố khai quật A1 còn tìm thấy hệ thống móng trụ của thủy đình ven sông… Điều đáng ngạc nhiên hơn, tại đây đã phát hiện ra một giếng nước thời Lý xây gạch đường kính 68cm, sâu 2,5m cùng với hai giếng nước thời Lê. Một điều cũng gây ngạc nhiên và khá lý thú không chỉ đối với khảo cổ học mà còn với những nhà xây dựng hiện nay, đấy là qua các hố khai quật có thể thấy những hệ thống cống thoát nước gần 1.000 năm vẫn còn khá nguyên vẹn.

Ở khu vực Hà Nội chưa có cuộc khai quật khảo cổ nào lại mang đến một số tượng di vật lớn và có giá trị như cuộc khai quật này. Tổng số di vật ước tính khoảng hơn 3 triệu, chủ yếu là gạch, ngói và đồ gốm trang trí kiến trúc. Có đến hàng ngàn viên gạch xây cung điện, lầu gác ở Thăng Long, trong đó đáng chú ý là các viên gạch có khắc chữ Hán “Đại Việt quốc dân thành chuyên” để nói rõ là gạch xây kiến trúc của nước Đại Việt thời Lê, gạch “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo”, là gạch xây cung điện nhà Lý năm 1057; gạch “Vĩnh Ninh trường” xây dựng các cung điện thời Trần; gạch “Tam phụ quân, Tráng phong quân”… chỉ dùng xây dựng các kiến trúc thời quân đội thời Lê Thánh Tông. Các tượng rồng, phượng cỡ lớn cũng được tìm thấy với kích thước khá lớn, cao gần đầu người, chứng tỏ các kiến trúc thời Lý, Trần, Lê ở đây được xây dựng rất công phu và đẹp đẽ. Trong một hố khai quật khác, đã phát hiện ra các loại gốm sứ cao cấp với các biểu trưng chỉ dành riêng cho nhà vua như hình rồng năm móng và chữ “Quan”, do Việt Nam tự sản xuất với kỹ thuật cao và đồ dùng sinh hoạt, đồ trang sức bằng kim loại đen, kim loại màu, cùng loại có ánh vàng cũng được phát hiện.

Mặc dù cuộc khai quật sẽ còn tiếp diễn với hàng ngàn mét vuông trong khu vực nhưng qua các di tích kiến trúc được tìm thấy, các nhà khảo cổ học bước đầu nhận định; toàn bộ các di tích đã phát hiện nằm trên quy hoạch mặt bằng tổng thể của một khu vực khoảng 40.000m2 ở phía Tây hoàng thành Thăng Long thời Lý, Trần, Lê. Thời kì tiền Thăng Long đây là trung tâm thành Đại La. Thời kì Lý, Trần có thể là điện Càn Nguyên (hay còn gọi là điện Thiên An) và thời Lê đây là cung điện của một vị hoàng hậu của vua Lê Thánh Tông.

Bộ Văn hóa – Thông tin, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Hội Khoa học lịch sử VN đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, diễn đàn khoa học để tìm giải pháp bảo vệ và phát huy các di tích vừa được phát hiện. Trong một cuộc họp mới đây do Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia tổ chức, đại đa số các nhà khoa học tìm đồng tình kiến nghị cần được tiếp tục khai quật mở rộng, cuộc khai quật chỉ mới được tiến hành trên một nửa diện tích, cho nên chưa có thể đánh giá được một cách đầy đủ về các di tích đã phát lộ, đặc biệt là trung tâm chính của hoàng thành Thăng Long cổ xưa.

*

Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh: Hoàng thành Thăng Long

Thuyết minh về Lăng Bác

Chiến tranh đã đi qua gần nửa thế kỉ nhưng nỗi xót thương và niềm yêu kính của mỗi người dân Việt Nam dành cho Bác Hồ – vị Cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam – chưa bao giờ nguôi cạn. Nhớ đến người, những dòng người hướng về lăng Bác tưởng như không bao giờ dừng lại.

Mặt chính của lăng nhìn ra hướng đông là Quảng trường Ba Đình. Lăng gồm ba lớp với chiều cao 21,6 mét. Lớp dưới kết cấu bậc nhiều cấp, có lễ đài dành cho đoàn chủ tịch khi mít tinh. Phần giữa là kết cấu trung tâm của lăng, gồm phòng thi hài, hành lang, cầu thang lên xuống. Phần trên là mái lăng được tạo dáng cách điệu bông sen nở. Mặt chính lăng có dòng chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh” bằng đá hồng ngọc màu mận chín.

Lăng là nơi lưu giữ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Cha già dân tộc, người đã được UNESCO tặng danh hiệu Danh nhân Văn hóa thế giới và Anh hùng giải phóng dân tộc nhân kỷ niệm 100 ngày sinh (1890 – 1990).

Công trình lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết quả lao động sáng tạo của nhiều nhà khoa học và công nhân hai nước Việt Nam – Liên Xô tỏ lòng tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh và là sản phẩm của tình hữu nghị Việt – Xô.

Lăng Bác quay về hướng Đông để đón ánh mặt trời, trước cửa lăng là quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi đây, ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã chứng kiến những giờ phút thiêng liêng nhất của dân tộc khi Hồ Chí Minh đứng trước quốc dân đồng bào đọc “Tuyên ngôn Độc lập” công bố với thế giới nền độc lập lâu bền của dân tộc Việt Nam ta. Quảng trường Ba Đình dài 320m, rộng 100m, chia thành 240 ô cỏ xanh tươi là hình tượng những chiếc chiếu trải trên sân đình ở các làng quê Việt Nam xưa, là nơi nhân dân đến dự các buổi lễ trọng thể. Phía tây của Quảng trường là khu lưu niệm Hồ Chủ tịch. Tại đây còn có Bảo tàng Hồ Chí Minh, ngôi nhà sàn là nơi ở của Người, hồ cá, vườn cày, rặng dừa, những hàng rào dâm bụt. Tất cả đã đi vào thơ ca Việt Nam:

“Anh dẫn em vào cõi Bác xưaVườn xoài hoa trắng nắng đu đưaCó hồ nước lặng sôi tôm cáCó bưởi cam thơm mát bóng dừa”.

(Tố Hữu)

Sau nhà là vườn quả với hàng trăm loài cây quý do các địa phương đưa về trồng, như cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi biếu Bác nàm 1954, bưởi Phúc Trạch, Biên Hòa, Mê Linh; cam Hải Hưng, Xuân Mai, Vần Du, Xã Đoài; quýt Hương Cần, Lý Nhân; táo Thiện Phiến, Ngọc Hồ, song mai Đông Mỹ; hồng Tiên Điền (quê hương nhà thơ Nguyễn Du). Trong vườn còn có cả những loại cây từ nước ngoài như ngàn hoa, cây bụt mọc quanh ao, cây cau vua gốc từ Caribê…

Nhân dân từ mọi miền đất nước cũng như du khách quốc tế đến thủ đô Hà Nội, ai cũng muốn đến viếng lăng, thăm nhà ở của Bác và đi dạo quanh Quảng trường Ba Đình lịch sử. Nhắc đến lăng Bác, lòng người lại rưng rưng trong niềm thương nhớ:

“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớKết tràng hoa dăng bảy mươi chín mùa xuân”

(Viếng lăng Bác — Viễn Phương)

Thuyết minh về Hồ Tây

Anh về đây Hà Nội một chiều đôngChiều Hồ Tây với mênh mông nỗi nhớĐông đã về lăn tăn con sóng nhỏNgười bên người mặc cho gió bấc lay…

Chỉ đọc vài câu thơ là ta đã thấy hồ Tây thật thơ mộng và hữu tình đúng không nào? Nếu đã là người con của Hà Nội thì chắc hẳn sẽ biết về hồ này.

Hồ Tây là một trong những danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Hà Nội, đây cũng được coi là một sân khấu đặc biệt, kết hợp giữa mây trời và cảnh quan thành phố.

Hồ Tây, còn có tên hồ Mù Sương (Dâm Đàm), hồ Trâu Vàng (Kim Ngưu hồ), Đầm Xác Cáo,Tây Hồ, là hồ lớn nhất ở nội thành Hà Nội (với diện tích hơn 500 ha).

Con đường đi vòng quanh hồ dài tới 17 km. Hồ nằm ở phía tây bắc Hà Nội. Ngành địa lý lịch sử đã chứng minh rằng Hồ Tây trước đây chính là một đoạn của sông Hồng. Trải qua quá trình ngưng đọng và đổi dòng của sông, hồ đã trở thành hồ nước tự nhiên lớn nhất trong khu vực nội thành Hà Nội.

Hồ có từ thời nhà Lý, Trần. Nơi đây được các vua xây dựng các cung điện để giải trí và nghỉ mát, có thể kể đến như: Điện Hàm Nguyên đời nhà Trần, Cung Từ Hoa đời nhà Lý, nay là khu chùa Trần Quốc và Kim Liên.

Xung quanh Tây Hồ có nhiều di tích văn hóa lịch sử như: Làng Nghi Tàm, chùa Kim Liên với kiến trúc độc đáo và là quê hương của bà Huyện Thanh Quan. Làn Xuân La là nơi thờ bà tổ nghề dệt lĩnh Phạm Thị Ngọc Đô, còn phủ Hồ là nơi để thờ Liễu Hạnh Công chúa. Đường Thanh niên, trước gọi là đường Cổ Ngư, hình thành từ một con đê hẹp đắp ngăn một góc Hồ Tây.

Xem thêm: Cách Đánh Trống Khai Giảng, Cách Đánh Trống Trường Khai Giảng

Vào những ngày đẹp trời, rất đông người dân Hà Nội đi dạo quanh hồ hoặc chèo thuyền thưởng ngoạn cảnh đẹp. Ngoài ra còn các di tích văn hóa khác có thể kể đến như: Làng Nhật Tân, Làng Kẻ Bưởi,…

Ngoài ra, Hồ Tây cũng rất đặc biệt, dưới đáy hồ có nhiều nghĩa địa cổ. Nhưng tại sao, những ngôi mộ lại nằm ở giữa hồ? Chẳng lẽ, phong tục người dân ven hồ đem người chết ra giữa hồ chôn sao? Xưa kia, Hồ Tây chỉ là một nhánh cụt của sông Hồng, không rộng tới 560 ha và chứa tới 8 triệu mét khối nước như hiện nay.

Bên Hồ Tây có hàng chục làng mạc cổ, cánh đồng, ruộng vườn bám ở mép hồ và cũng có hàng chục cái nghĩa địa, để chôn cất những người trong làng, hoặc chôn người chết ở các làng phía trong bãi.

Trong sử sách cũng chép, thời Lê, khi đánh nhau với quân Chăm-pa, bắt được tù binh, đều tạo điều kiện cho họ lập kế sinh nhai bằng cách khai hoang vùng đất rậm rạp, heo hút quanh Hồ Tây. Người Chăm-pa sinh sống lâu ngày, lập lên những ngôi làng đặc thù quanh Hồ Tây suốt hàng trăm năm trời.

Sống ven hồ, chết cũng ở ven hồ, nên dưới đáy Hồ Tây, có thể vẫn còn hàng ngàn ngôi mộ. Tuy nhiên, thời gian đã quá lâu, lớp bùn đất bồi lấp, dìm những nghĩa địa này xuống dưới sâu.

Hồ Tây có gì? Hồ Tây có bình yên, sự bình yên hiếm hoi giữa Hà Nội tấp nập này. Sáng sớm ở hồ Tây thường có sương mù, nhất là vào mùa đông, mùa xuân. Nước hồ Tây buổi sáng xao động rất nhẹ, mặt hồ gần như phẳng lặng vì yên gió.

Xung quanh hồ là những người tập thể dục, đạp xe đạp rất đông. Ai cũng muốn hít thở một bầu không khí mát mẻ, trong lành ở nơi không gian rộng mở thoáng đãng. Buổi trưa, hồ Tây bước vào thế giới của khoảng lặng.

Kể cả những nơi luôn đông đúc và nhộn nhịp như phủ Tây Hồ cũng rất ít người ở lại. Vào những chiều mưa giông thì hồ Tây cũng không khác mặt biển là mấy. Gió ào ạt trên một khoảng không gian rộng lớn không bị ngăn cản, nước hồ chồm cao một vài gang tay như sóng biển. Tiếng sóng vỗ cũng dạt dào như những nỗi niềm gửi gắm đâu đây…

Những hôm thời tiết yên bình thì chiều muộn trên hồ Tây có một màu sắc rất lạ. Khi vầng mặt trời đỏ rực còn đang chuẩn bị rút vào màn đêm thì mặt hồ có một màu đỏ bạc pha ánh sáng, lấp loáng mờ ảo.

Còn đêm hồ Tây bao giờ cũng có khoảng lãng mạn dành cho lứa đôi, những khách sạn cao tầng hắt sáng xuống để mặt hồ không quá tối tăm. Những nhà hàng, quán cà phê lung linh ánh đèn. Những đôi lứa yêu nhau vừa ngồi tận hưởng mùa hạnh phúc, vừa yên tâm hít thở khí trời.

Hồ Tây ngày nay còn là lá phối xanh của thành phố. Hồ Tây không chỉ đẹp bởi mặt nước xanh mênh mông, mà còn là vẻ đẹp thơ mộng bởi sắc tím của hoa bằng lăng, vẻ rực rỡ của những cánh hoa phượng hồng mỗi độ hè về.

Mặt nước hồ luôn phảng phất những làn gió mát, khiến tâm hồn con người thêm thư thái. Với không gian như thế, hồ Tây thực sự là nơi đến thư giãn của nhiều người Hà Nội.

Có người tìm cho mình một góc ở bên hồ để hóng gió, nhâm nhi ly cà phê trong một quán ven đường, thưởng thức món bánh tôm nổi tiếng, hay chỉ ăn một ly kem và ngồi trò chuyện với bạn bè.

Như một điểm đến lý tưởng, hồ Tây trở thành nơi gắn bó đời sống tinh thần của người Hà Nội. Hiện nay hồ Tây đang là một trong những nơi tìm năng và có khả năng thay thế vị trí trung tâm hiện tại của Hồ Gươm.

Hồ Tây bao giờ cũng vọng lên trong tâm tưởng người Hà Nội như một nơi lưu giữ những kỷ niệm. Những đền chùa cổ kính uy nghiêm, những hàng cây xanh tỏa bóng mát và mặt nước hồ lúc thì yên bình lúc thì cồn cào sóng vỗ.

Một khoảng lặng yên bình, thơ mộng và đằm sâu văn hóa kinh kỳ. Hồ Tây là thiên nhiên hoa cỏ, là cá tôm chim trời, là cuộc sống muôn màu trong lòng một thành phố có ngàn năm tuổi…

Và hồ Tây là cả những bí ẩn rất đáng để trân trọng và ghi nhớ vì toàn bộ các di tích lịch sử văn hóa ở ven bờ đều chọn hướng cửa chính trông ra lòng hồ!

Nếu có dịp tại sao bạn không tìm lại sự bình yên cho bản thân ở Hồ Tây nhỉ? Chắc chắc bạn sẽ hài lòng lắm đấy.

*

Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh: Hồ Tây

Thuyết minh về Chùa Một Cột

Chùa Một Cột là công trình kiến trúc độc đáo gắn liền với những giá trị về văn hóa, lịch sử của dân tộc. Chùa Một Cột không chỉ được đánh giá là ngôi chùa có kiến trúc nghệ thuật độc nhất ở Việt Nam cũng như Châu Á mà còn được biết đến là điểm đến tâm linh, trở thành biểu tượng văn hóa ngàn năm của thủ đô Hà Nội.

Chùa Một Cột còn có tên gọi khác là Diên Hựu Tự hoặc Liên Hoa Đài, ngôi chùa nổi tiếng bởi kiến trúc xây dựng rất độc đáo, toàn bộ chùa được xây dựng trên một cột trụ bằng đá cao khoảng 4m. Ngôi chùa được khởi công xây dựng vào thời Lý trên đất thôn Thanh Bảo thuộc huyện Quảng Đức và nằm ở phía Tây của Hoàng Thành Thăng Long xưa. Ngày nay chùa nằm ở phố Chùa Một Cột, cạnh Quảng trường Ba Đình – Lăng Chủ Tịch.

Chùa Một Cột được xây dựng dựa theo cảm hứng từ giấc mộng của vua Lý Thái Tông. Trong mơ vua thấy Phật Bà Quan Âm ngồi trên đài hoa sen và được mời lên đài. Khi tỉnh dậy vua kể lại giấc mơ cho triều thần nghe và được nhà sư Thiên Tuế khuyên nên xây chùa. Vì vậy vào mùa đông năm 1049 vua Lý Thái Tông cho xây dựng chùa. Để tạo nên chùa Một Cột Vua đã cho dựng một cột đá giữa hồ và xây đài hoa sen có tượng Bồ Tát Quan Thế m ở trên.

Sau khi dựng chùa, vua Lý Anh Tông thường lui tới cầu phúc và làm việc thiện vậy nên ít sau đó hoàng hậu mang thai sinh ra một hoàng tử tuấn tú. Nhờ sự ra đời thần kì của hoàng tử mà vua đã coi đó là ân huệ mà trời đất ban cho nên đã cho xây một ngôi chùa khác bên cạnh chùa một cột để tạ ơn. Cụm di tích này được đặt tên Diên Hựu Tự với mong muốn “phước lành dài lâu”.

Vì muốn trùng tu lại chùa nên năm 1105 vua Lý Nhân Tông cho người xây dựng lại và dựng thêm hai tháp lợp sứ trắng trước sân. Ba năm sau Nguyên Phi Ỷ Lan lệnh cho người đúc “Giác thế chung” để thức tỉnh lòng thế nhân.Chùa Một Cột là di tích lịch sử có giá trị nghệ thuật và được đánh giá cao không chỉ trong nước mà còn trên thế giới. Thật vậy, vào năm 1962 chùa đã được công nhận là Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật Quốc gia và đến năm 2012 chùa Một Cột đã xác lập kỷ lục là “Ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất Châu Á” bởi tổ chức Kỷ lục châu Á.

Chùa Một Cột được mệnh danh là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo một không hai bởi chùa Một Cột mang dáng vẻ của một đóa sen lớn đang vươn mình khỏi mặt nước, hình tượng bông sen gợi cho người ta sự thuần khiết cao quý, sáng trong thuần túy. Toàn bộ không gian chùa được đặt trên một trụ đá cao 4 mét do hai khối đá cấu thành hợp với nhau có đường kính 1,2 mét dưới hồ Linh Chiểu. Ao nước phía dưới chùa được bao quanh bởi lan can làm bằng những viên gạch sành tráng men xanh với những họa tiết hình khối. Mái chùa lợp ngói cổ với theo kiểu hình đao cong vút và trên đỉnh đắp hình rồng thể hiện sức mạnh thần thánh, quyền uy lẫm liệt.

Chùa Một Cột đã trở thành một trong những biểu tượng mang đậm tính dân tộc, là địa điểm tham quan nổi tiếng của thủ đô Hà Nội. Chùa không những nổi tiếng trong nước mà còn được rất nhiều khách tham quan, du lịch quốc tế tìm đến để tham quan, thưởng thức nét đẹp độc đáo đậm chất văn hóa bản sắc dân tộc.

*

Thuyết minh về Văn Miếu Quốc Tử Giám

Văn Miếu – Quốc Tử Giám là quần thể di tích tiêu biểu của thành phố Hà Nội nói riêng và miên Bắc nói chung. Hãy viết bài văn thuyết minh về quần thể di tích trên.

Thăng Long – Hà Nội là Thủ đô ngàn năm văn hiến, nơi quy tụ tinh hoa, khí phách dân tộc. Trải qua bao thăng trầm, nhiều giá trị văn hóa lịch sử lắng đọng dẩn tạo nên chất riêng của kinh đô hơn ngàn tuổi. Trong đó, phải kể đến biểu tượng của trí tuệ và truyền thống giáo dục nước nhà, đó là quần thể di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám, trường đại học đẩu tiên của nước ta.

Với vẻ đẹp cổ kính, quần thể di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám tọa lạc giữa Thủ đô tại đường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa như một chứng nhân lịch sử vô giá của thành phố Hà Nội. Quẩn thể di tích nằm giữa bốn phố chính gồm Nguyễn Thái Học, Tôn Đức Thắng, Văn Miếu và Quốc Tử Giám. Để có được quần thể di tích như hiện nay, Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã trải qua nhiều biến động cùng với Thủ đô ngàn năm văn hiến.

Về lịch sử, Văn Miếu được xây dựng từ năm 1070 với mục đích ban đẩu là thờ những vị Tiên thánh, Tiên sư của đạo Nho và là nơi dạy học cho Thái tử Lý Càn Đức. Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho xây dựng Quốc Tử Giám cạnh Văn Miếu để dạy học cho hoàng tử và con em quý tộc, đại thẩn. Sang đời Trần, nơi đây thu nhận thêm những con em thường dân xuất sắc. Cùng với sự tham gia của thẩỵ giáo Chu Văn An, Văn Miếu Quốc Tử Giám ngày càng trở nên quỵ củ hơn. Sau khi mất, ông cũng được thờ tự tại Văn Miếu. Thời nhà Lê bắt đẩu từ vua Lê Thánh Tông cho dựng bia Tiến sĩ. Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử Giám chuyển vể Huế. Văn Miếu – Hà Nội được sửa sang lại một lần và mở rộng thêm ban thờ phụ mẫu của Khổng Tử. Tuy nhiên, đầu năm 1947, thực dân Pháp nã đạn làm sập căn nhà. Những công trình kiến trúc hiện tại của

Văn Miếu – Quốc Tử Giám được mô phỏng theo kiến trúc truyền thống trên nển đất của Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

Quần thể di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám có cấu trúc rất rõ ràng thuận tiện cho du khách tham quan từ Văn Hổ, Vườn Giám đến khu nội tự Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Trước khi vào tham quan, du khách sẽ được ngắm cảnh Hồ Văn hay còn gọi là Hổ Giám, hồ Minh Đường, nằm ngay trước cổng vào. Hổ nước trong xanh tạo tâm thế tĩnh lặng cho người xem trước khi bước vào quần thể di tích. Giữa hồ có gò Minh Châu, dựng Phán Thủy đường – nơi văn nhân thời xưa bình thơ văn. Bên cạnh hồ là khu đất trống thường được tổ chức các sự kiện mà tiêu biểu là lễ hội Thư pháp đầu năm.

Đối diện với Hổ Văn là Văn Miếu môn – cổng tam quan dẫn vào quẩn thể di tích. Nhìn từ bên ngoài, Văn Miếu môn có ba cửa vào nhưng nếu bước qua cánh cổng và nhìn từ bên trong lại là năm cửa. Theo quan niệm thời xưa, cổng năm cửa dành cho thiên tử sử dụng, còn vương hầu chỉ làm cổng ba cửa, nhà thường dân làm một cửa. Với cách làm cổng như vậy, Văn Miếu môn thể hiện quan niệm rất rõ của triều đại phong kiến Việt Nam trong đế ngoài vương. Tuy nhận sắc phong xưng vương từ Trung Quốc nhưng bên trong, Đại Việt là đất nước độc lập và hoàn toàn bình đẳng với các quốc gia khác. Quan niệm này không chỉ chi phối kiến trúc cổng của Văn Miếu mà thể hiện ở cả đại nội kinh thành Huế.

Bước qua Văn Miếu môn là quần thể di tích khép kín trong khuôn viên hình chữ nhật chia thành các khu vực riêng được ngăn cách bằng các cổng như Đại Trung môn, Khuê Văn các, Đại Thành môn. Cả khuôn viên được bao kín bằng tường ngang cách biệt quần thể với bên ngoài. Chạy dọc bên tường ở phần khu Nhập đạo giữa Văn Miếu môn và Đại Trung môn, giữa Đại Trung môn và Khuê Văn các là con đường thảm cỏ, cây xanh tươi mát cùng hai hổ nước nhỏ hai bên. Không gian trở nên yên bình, quang đãng và dễ chịu khác hẳn với không khí náo nhiệt, ổn ào và bụi bặm của đường phố bên ngoài.

Khuê Văn các là một nét kiến trúc đặc biệt trong quần thể di tích. Đây là một lẩu vuông tám mái, bao gồm bốn mái thượng và bốn mái hạ rất hài hòa và độc đáo. Tầng dưới là bốn trụ gạch vuông có chạm trổ hoa văn tinh vi và sắc sảo. Khuê Văn các vốn là nơi tụ họp bàn luận của văn nhân thời xưa. vẻ đẹp của Khuê Văn các được thể hiện ngay trong ý nghĩa cái tên của nó, căn lầu mang vẻ đẹp của ánh sao Khuê.

Ngay sau Khuê Văn các là Thiền’Quang tỉnh (giếng soi sáng bầu trời) và hai bên là tám mươi hai bia tiến sĩ. Giếng hình vuông, quanh bờ đều xây hàng lan can tới độ ngang lưng. Người xưa có quan niệm giếng hình vuông tượng trưng cho đất, cửa tròn gác Khuê Văn tượng trưng cho trời. Tinh hoa của cả trời và đất đều được tập trung ở trung tâm văn hóa giáo dục uy nghiêm Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Mỗi bên bờ giếng dựng bốn mươi mốt tấm bia tiến sĩ ghi nhận thành quả học tập của các tấm gương thời xưa. Người đẩu tiên được vinh danh là Nguyễn Trực – trạng nguyên đẩu tiên nhà Hậu Lê, cũng là Lưỡng quốc Trạng nguyên lỗi lạc của dân tộc. Những bia tiến sĩ được cõng trên lưng những chú rùa bởi rùa vốn được xem là biểu tượng cho vũ trụ – mai rùa tượng trưng cho trời, bụng rùa tượng trưng cho đất. Rùa cũng mang ý nghĩa của sự kiên trì, bền bỉ và sự trường tổn, vĩnh cửu. Những tấm bia tiến sĩ khắc tên những con người tài giỏi, tinh hoa của đất trời, với mong muốn vinh danh nhân tài, đê’ cao học vấn, khích lệ người tài phấn đấu vươn lên. Tám mươi hai tấm bia tiến sĩ đã được Unessco công nhận là di sản tư liệu thế giới thuộc chương trình “Kí ức thế giới” vào năm 2010. Những tấm bia tiến sĩ không những trở thành biểu tượng cho con đường học vấn, cho nền giáo dục nước nhà mà còn trở thành niềm cảm hứng vươn đến đỉnh cao trí tuệ cho tất cả những bạn trẻ đến nơi đây.

Qua Đại Thành môn, nơi linh thiêng nhất của quẩn thể di tích mở ra là khu điện thờ các bậc tổ đạo Nho và danh nhân có công phát triển Văn Miếu.

Khu Thượng điện có chín gian, tường xây ba phía, phía trước có cửa bức bàn đóng kín năm gian giữa. Bốn gian đầu hồi có cửa chấn song cố định tạo cho nơi đây một không khí thâm nghiêm, u tịch khiến du khách càng thêm kính ngưỡng những vị danh nhân thời xưa. Nơi đây thờ Khổng Tử chính giữa, bên trái có hai ngai thờ Tăng Tử và Mạnh Tử, bên phải có hai ngai thờ Nhan Tử và Tử Tư. Tòa Đại Bái bên ngoài cũng xây chín gian có chức năng hành lễ trong những kì tế tự xuân thu. Chỉ gian chính giữa có hương án thờ còn các gian khác đều bỏ trống. Sau đó là đền Khải Thánh – nơi thờ phụ mẫu của Khổng Tử.

Phần cuối cùng của quần thể di tích là Tiền đường – Hậu đường. Tiền đường trưng bày về truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo. Đây cũng là nơi tổ chức các hội thảo khoa học và các sự kiện văn hoá nghệ thuật quan trọng của quốc gia. Hậu đường có kiến trúc hai tầng. Tầng dưới thờ Tư nghiệp Quốc Tử Giám (tương đương với Phó Hiệu trưởng) Chu Văn An. Đây là nơi trưng bày vê’ Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long nói riêng và nển giáo dục Nho học Việt Nam nói chung. Đổng thời, nơi đây giới thiệu khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Văn Miếu – Quốc Tử Giám cùng những giá trị sâu sắc của truyền thống hiếu học, đê’ cao nhân tài, thừa kế và phát huy di sản văn hoá dân tộc. Tầng hai là nơi tôn thờ các danh nhân có công xây dựng Văn Miếu – Quốc Tử Giám và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục Nho học của Việt Nam. Đó là các vpVua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông.

Văn Miếu – Quốc Tử Giám có giá trị nhiều mặt, đây vừa là di tích văn hóa, lịch sử, giáo dục, vừa là thắng cảnh nổi tiếng thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Vượt lên trên những giá trị vật chất, quẩn thể di tích này đã trở thành biểu tượng không thể thay thế cho tinh thẩn hiếu học và trí tuệ của dân tộc Việt Nam.

Tham quan trọn vẹn quần thể di tích, du khách được quay ngược thời gian trở vê’ với sự phát triển của nển giáo dục Nho học hưng thịnh một thời của đất kinh kì. Văn Miếu – Quốc Tử Giám là cái nôi đào tạo nhiều nhân tài cho Nhà nước phong kiến Việt Nam, là nơi chủng kiến và ghi dấu thành công của biết bao danh nhân đất Việt. Nơi đây thực sự là một không gian học thuật, lịch sử để người người tìm vê’ như một cách tri ân, nối tiếp truyền thống hiếu học của cha ông.

Tham khảo thêm mẫu dàn ý và tuyển chọn các bài văn thuyết minh về Văn Miếu Quốc Tử Giám đặc sắc nhất.

*

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở TP Hồ Chí Minh

Các danh lam thắng cảnh tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chợ Bến ThànhNhà thờ Đức BàDinh Độc LậpKhu du lịch Suối TiênThuyết minh về chợ Bến Thành

Chợ Bến Thành ở Sài Gòn trước khi bị Pháp xâm chiếm năm 1859 là một chợ nhỏ nằm ở khu đất đồng lầy kề bên bờ sông Bến Nghé và sát thành Sài Gòn. Từ đó mà chợ đã mang tên ghép là Bến Thành. Chợ Bến Thành được xây bằng gạch, khung gỗ, lợp tranh. Năm 1870, chợ bị cháy một phần. Năm 1911, chợ cũ bị phá đi, chợ mới được xây khang trang rộng rãi hơn và hoàn thành vào tháng 3/1914.

Sau năm 1975, chợ Bến Thành lại được đầu tư nâng cấp to đẹp lên rất nhiều so với trước. Năm 1985, chợ Bến Thành được sửa chữa lại toàn bộ bên trong, bên ngoài, duy chỉ có dáng vẻ phía trước với tháp đồng hồ được giữ lại như xưa. Hình ảnh chợ Bến Thành với tháp đồng hồ thường được dùng làm biểu tượng cho thành phố.

Trải qua nhiều năm thăng trầm của lịch sử, chợ Bến Thành vẫn là một trong những trung tâm mua sắm bậc nhất tại Hồ Chí Minh. Chợ Bến Thành là một thị trường nhộn nhịp cả ngày lẫn đêm, chợ Bến Thành được xem là một biểu tượng, điểm đến vô cùng thú vị cho không chỉ du khách quốc tế mà còn cả với người dân địa phương. Dạo quanh, mua sắm, khám phá chợ Bến Thành từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong những tour du lịch miền tây kết hợp du lịch Sài Gòn.

Chợ Bến Thành nổi tiếng là khu trung tâm mua sắm có vị trí đắc địa, cửa ngõ giao thoa của thành phố, nằm giữa đại lộ Hàm Nghi, Trần Hưng Đạo. Đây là điều kiện thuận lợi cho các hoạt động giao lưu và thương mại diễn ra sôi động, nhộn nhịp. Chợ Bến Thành có tới bốn cửa chính với Cửa Nam (cửa chính) nhìn ra quảng trường Quách Thị Trang, cửa Bắc phía đường Lê Thánh Tôn, cửa Ðông phía đường Phan Bội Châu và cửa Tây hướng ra đường Phan Chu Trinh.

Theo kinh nghiệm du lịch Sài Gòn, đến với chợ Bến Thành du khách có thể tìm thấy gần như hầu hết mọi thứ từ thông dụng đến hiếm có, từ bình dân đến cao cấp như thực phẩm, quần áo, trang sức, vật dụng, gia vị, quà lưu niệm, đồ điện tử… với chất lượng tốt.

Bên cạnh những món quà lưu niệm, thời trang, đến chợ Bến Thành bạn sẽ thích thú khi được khám phá khu vực ẩm thực với hàng trăm món từ mọi miền của đất nước như phở Hà Nội, bánh bèo Huế, hủ tiếu Mỹ Tho, chả giò, các món bún, bánh xèo.

Chợ Bến Thành đã trở thành một trong những biểu tượng du lịch của thành phố Hồ Chí Minh. Điểm du lịch hấp dẫn luôn thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan và mua sắm.

*

Thuyết minh về nhà thờ Đức Bà

Mỗi thành phố đều mang trong mình nét đẹp riêng với những công trình, kiến trúc, di tích, thắng cảnh riêng. Nếu Hà Nội nổi tiếng với phố cổ thì Hồ Chí Minh lại thu hút du khách đến nhà thờ Đức Bà. Với kiến trúc độc đáo, ẩn chứa ý nghĩa lịch sử và tôn giáo sâu sắc, nhà thờ Đức Bà đã trở thành một di tích thắng cảnh đặc trưng của Sài Gòn ngày nay.

Tọa lạc tại số 1, Công xã Pari, phường Bến Nghé, giữa trung tâm Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, Nhà thờ Đức Bà đồ sộ với kiến trúc cổ của Pháp, không gian thông thoáng với cây xanh tươi mát, là một trong những biểu tượng tiêu biểu của Sài Gòn.

Về nguồn gốc lịch sử, Nhà thờ được xây dựng cách đây đã nhiều năm. Năm 1960, sau khi chiếm Sài Gòn, Pháp cho sửa lại một ngôi chùa của người Việt bị bỏ hoang ở đường số 5 thànhnhà thờ để làm nơi cử hành Thánh Lễ cho người theo đạo Công giáo. Sau đó, qua từng năm phụ thuộc vào nhu cầu mở rộng, nhà thờ ban đầu được cải tạo và xây dựng lớn hơn, cầu kỳ hơn. Đến tháng 8/1876, thống đốc Nam Kì Duperre đã tổ chức một cuộc thi đồ án thiết kế kiến trúc cho một nhà thờ mới. Kiến trúc sư J.Bourad giành chiến thắng với bản thiết kế mang phong cách kiến trúc Roma cải biên pha lẫn đặc trưng Gothic. Ông chính là người xây dựng lên nhà thờ sau này. Công trình của J.Bourad khởi công từ 10/1977 đến 4/1880, khi hoàn thành có tên là nhà thờ Nhà Nước vì được nhà nước đầu tư và xây dựng. Tháng 2/1959, bức tượng Đức Mẹ được tạc tại Pietrasanta mang đến đặt phía trước nhà thờ, nhà thờ đổi tên là nhà thờ Đức Bà cái tên đó vẫn duy trì cho đến hôm nay.

Với thiết kế đặc biệt, khu vực nhà thờ được đánh giá là nơi đẹp nhất thành phố Hồ Chí Minh. Nó nằm giữa quảng trường, không hề có hàng rào che chắn và khuôn viên bên cạnh, không bị che khuất bởi các công trình kiến trúc khác, có góc nhìn tuyệt đẹp từ mọi phía, thực sự là điểm nhấn nổi bật giữa không gian đô thị. Mặt trước thánh đường là một công viên (Công trường Công xã Paris) với bốn con đường giao nhau tạo thành hình thánh giá, gần đó là Bưu điện Sài Gòn. Ở trung tâm công viên là bức tượng Đức Mẹ Hòa Bình. Tượng có thế đứng thẳng, tay cầm Qủa Địa Cầu có đính cây thánh giá, đôi mắt Đức Mẹ đăm chiêu nhìn lên trời xanh như đang nguyện cầu. Chân Đức Mẹ đạp đầu con rắn.Trên bệ đá, phía trước bức tượng, người ta có gắn một tấm bảng đồng với hàng chữ Latinh: “REGINA PACIS – ORA PRO NOBIS – XVII. II. MCMLIX. Nghĩa là: NỮ VƯƠNG HÒA BÌNH – CẦU CHO CHÚNG TÔI – 17.02.1959”. Giữa hai tháp chuông trước đó, dưới mái có một chiếc đồng hồ Thụy Sĩ loại lớn, đến tận hôm nay vẫn chạy và chỉ giờ chính xác. Vào đêm vọng Lễ Giáng Sinh, tiếng chuông sẽ ngân vang.

Gần 140 năm đã qua đi nhưng nhà thờ Đức Bà vẫn đứng vững, thách thức với sự tàn phá của thời gian. Nhà thờ được thiết kế theo dạng thánh thất Basilica với mặt bằng hình chữ thập dài, gồm một gian lớn ở chính giữa, hai hành lang cánh và hậu cung hình bán nguyệt, mang đậm kiến trúc La Mã. Bên ngoài cải tiến với cuốn vòm gãy mang đặc trưng Gothic. Bên trong có kết cấu vòm thép hiện đại chống đỡ cả công trình. Móng của thánh đường được thiết kế đặc biệt, chịu được tải trọng gấp 10 lần toàn bộ kiến trúc ngôi nhà thờ nằm bên trên. Và một điều rất đặc biệt là nhà thờ không có vòng rào hoặc bờ tường bao quanh như các nhà thờ quanh vùng Sài Gòn – Gia Định lúc ấy và bây giờ.

Nội thất thánh đường được thiết kế thành một lòng chính, hai lòng phụ tiếp đến là hai dãy nhà nguyện. Toàn bộ thánh đường dài 93m, có 56 ô cửa kính với những họa tiết tinh xảo. Trên cửa mô tả các nhân vật hoặc sự kiện trong Thánh Kinh, 31 hình bông hồng tròn, 25 cửa sổ mắt bò bằng kính nhiều màu ghép lại với những hình ảnh rất đẹp. Chiều ngang nơi rộng nhất là 35 m. Chiều cao của vòm mái thánh đường là 21 m. Sức chứa của thánh đường có thể đạt tới 1.200 người, không gian thông gió. Tuy không rộng lớn bằng các công trình khác nhưng thánh đường nhà thờ Đức Bà được xem là kiến trúc độc đáo và đẹp nhất trong các công trình tại thuộc địa Pháp lúc bấy giờ.

Toàn bộ chất liệu xây dựng và các phụ kiện kim khí khác đều được chuyển từ Pháp sang. Bề mặt công trình được ốp hết bằng gạch trần và đá xanh, được tính toán tỉ mỉ, chính xác đến từng đường nét. Thời gian trôi đi, một vài bộ phận bị xuống cấp, hư hại và được thay thế bằng vật liệu trong nước, tuy nhiên vẫn đảm bảo được tính thẩm mĩ ban đầu của nó. Kiến trúc thánh đường đã tạo nên hiệu ứng ánh sáng tuyệt vời trong nội thất, mang đến cho con người cảm giác thanh thản, yên tĩnh và trang nghiêm.

Nhà thờ Đức Bà có giá trị đặc biệt. Nhà thờ được đánh giá là công trình văn hóa, tinh thần hài hòa kiến trúc Đông – Tây, truyền thống và hiện đại. Sự hòa hợp giữa kiến trúc và khung cảnh xung quanh cùng với phong cách độc đáo đã giúp nhà thờ Đức Bà trở thành công trình kiệt tác của lịch sử, tiêu biểu cho vẻ đẹp thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đây là điểm đến quen thuộc của giới trẻ đất Sài Thành, là địa điểm nằm trong danh sách ghé thăm đầu tiên của khách du lịch trong và ngoài nước khi lần đầu đặt chân đến Hồ Chí Minh.

Năm tháng cứ trôi đi, nhà thờ Đức Bà vẫn kiên cường đứng vững giữa lòng thành phố, trở thành một biểu tượng cho chốn Sài Thành sầm uất, đồng thời cũng trở thành niềm tự hào của người dân nơi đây.

*

Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh: nhà thờ Đức Bà

Thuyết minh về Dinh Độc Lập

Nhắc đến thủ đô Hà Nội sẽ phải biết đến Quảng trường Ba Đình lịch sử, còn nhắc đến thành phố Hồ Chí Minh sẽ phải biết đến công trình kiến trúc đặc trưng, di tích, địa danh đi vào lịch sử giải phóng dân tộc như Dinh Độc Lập. Đây chính là công trình kiến trúc đặc trưng và in đậm dấu ấn thời gian, lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dinh Độc Lập, Dinh Thống Nhất hay còn được gọi là hội trường Thống Nhất có vị trí tọa lạc trên một mảnh đất rộng 15 ha và nằm tại trung tâm thành phố Hồ Chí Minh. Gắn với một quá trình dài trong lịch sử đấu tranh của dân tộc chính là lịch sử ra đời và phát triển của Dinh Độc Lập. Nơi đây được xây dựng bằng gỗ giữa bạt ngàn xung quanh là cây xanh vào năm 1863.

Ngày 23 tháng 2 năm 1868 là ngày Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, Dinh Thống đốc Nam Kỳ mới tại Sài Gòn được khởi công xây dựng thay cho dinh cũ được dựng bằng gỗ vào năm 1863. Lúc này Dinh Độc Lập có tên mới là Dinh Norodom. Dựa vào đồ án do kiến trúc sư Hermite phác thảo dinh mới đã được xây dựng lên. Vật liệu hầu như đều được chở từ Pháp sang.

Đến năm 1887 nơi đây được đổi tên thành Dinh Toàn Quyền Đông Dương. Sau đấy vào tháng 3 năm 1945 nơi đây lại trở thành nơi làm việc của Phát Xít Nhật tại Việt Nam.

Những năm kháng chiến qua đi rồi đến năm 1954 nơi đây trở thành cơ quan đầu não của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa với tên gọi là Dinh Độc Lập. Dinh Độc Lập ngày nay đã được xếp hạng vào Di tích Quốc gia đặc biệt nhờ vào bề dày lịch sử của nó.

Ngày nay cô